Roi Lâm

Lâm là rừng. Roi lâm là roi rừng, có ý lấy cây rừng làm roi (binh khí), thường thì người ta hay dùng tre (tầm vông) — nhỏ hơn cổ tay, tiện lợi, dễ cầm — và cây mây.

Roi lâm là khắc tinh của lăn khiên. Khi loan roi từ dưới hất lên để đánh bật lăn khiên lên đồng thời hạ người thấp xuống đâm luôn vào mà không nên rút roi về lấy trớn rồi mới đâm.

Khi mới tập, hãy tập loan roi từng động tác một, có nghĩa là khi loan đầu roi hướng ngay trước mặt, cao vừa khỏi đầu là dừng lại, xong loan tiếp cũng đến vừa khỏi đầu là dừng. Khi loan, tập hất roi lên thật mạnh để luyện phát lực của hai cánh tay. Nói tóm lại toàn bài có mấy bộ loan khác nhau nhưng chung quy khi loan phải mạnh và dừng ngay tức khắc.

Tập loan roi cũng là để luyện bộ tay, áp dụng vào các đòn vỗ hóa giải quyền cước của địch thủ. Cái vỗ của Sư Trưởng SA LONG CƯƠNG rất uy lực; khi địch đánh quyền tới, Sư Trưởng vỗ là cánh tay đó của đối phương phải trật khớp mà còn bị đâm vào các trọng huyệt. Nhiều đối thủ, khi thử thách với Sư Trưởng, đã phải khiếp đảm với đòn vỗ thần sầu đó.

Theo tôi, khi luyện từng thế loan, khi phát lực được rồi mới tập loan liên tục và nhanh; như vậy khi áp dụng vào bộ tay để vỗ cái vỗ đó mới có hiệu quả.

— VS Trương Thế Lưu

Tứ Môn Chương

Hay tứ môn chướng: là bốn cửa có chướng ngại (cản trở), ý nói là ta bị địch vây quanh bốn cửa (bốn mặt), muốn thoát ra khỏi vòng vây, ta phải phá một cửa nào đó mà ta thấy là “chắc ăn” hoặc có thể.

Trong bài quyền chỉ ta chiến thuật đánh với nhiều đối thủ cùng lúc như sau:

Đang đánh song chỉ cầm long mặt tiền (mặt trước), thoáng thấy địch từ mặt hậu (phía sau) đá tới, ta nhanh chóng xoay về mặt hậu chận cái đá của địch, nhưng mắt vẫn nhìn về mặt tiền. Địch ở mặt tiền thấy ta đang bận chận cái đá, hắn liền tung cước đá vào mặt, ta lập tức không trả đòn người ở mặt hậu vừa đá ta mà xoay về mặt tiền chận cái đá, trả đòn đánh xốc lên cằm địch và phạt vào bụng địch. Khi hạ được địch ở mặt tiền tức là đã phá được vòng vây của địch.

Đây là pháp đánh với nhiều người biết hợp đồng liên thủ, đôi khi chúng ta không thể phản đòn và trả đòn cùng một đối thủ. Khi phản đòn người nầy mà thấy người khác tấn công tới gần, không còn cách nào hơn là phải “tùy cơ ứng biến”.

— VS Trương Thế Lưu

Hầu Quyền

Lời dẫn

Trong võ thuật, người xưa đã nhìn thấy được những đặc tính thiên bẩm của hầu, khỉ (mai), như trong những động tác di chuyển, chụp, bắt, nhẩy nhót, tránh né nhanh nhẹn khi đối đầu với rắn hổ mang, chó, mèo, hổ, báo, và được xem là sở hữu “phương tiện” thuận lợi trong đời sống hoang dã mà làm ra bài quyền. Không những thế, loài hầu khỉ còn rất tinh khôn, biết “thời cơ” mà hành động để đạt được mục đích “chân lý tối hậu”.

Cũng giống như vậy, chúng ta chớ có ỷ vào võ công, đánh nhanh, đá mạnh đã cho là vô địch thiên hạ, đó chỉ là “phương tiện” mà còn phải xem địch có chỗ nào sơ hở rồi nhờ vào sức nhanh mạnh đó ứng dụng để đạt đến “chân lý tối hậu”. Sư trưởng Sa Long Cương hay nhắc nhở với môn sinh: “trống đâu đánh đó” — không ngoài cái ý thời cơ vậy.

Lấy phương tiện làm chân lý là nhầm lẫn tai hại.

— VS Trương Thế Lưu

Hau-Quyen

Lão Mai

Tôi nhớ hồi còn đi tập ở võ đường Sa Long Cương, khi tập đến bài Lão Mai (năm 69), Sư Trưởng nói bài này là “khỉ già đứng vịn cành mai”; lúc bấy giờ tôi chỉ nghe vậy và biết vậy mà thôi. Trong thời gian đi tập và giao tiếp với bạn bè võ lâm, có người nói bài quyền Lão Mai là cội mai già, nghe qua tuy không hạp lý nhưng cũng không có ý kiến gì.

Đến khi ra dạy (trước năm 85) trong lớp có vị giáo sư Hán văn, tôi mới hỏi bài quyền Lão Mai có nghĩa gì, ông giáo sư đáp rằng Lão Mai là cội mai già, tôi cũng thật chưa hài lòng. Mấy năm sau trong lớp có ông bác sĩ châm cứu cũng giỏi Hán văn, tôi lại hỏi trong bài quyền Lão Mai, vậy Lão Mai có nghĩa gì, ông trả lời là: cội mai già. Lúc bấy giờ tôi mới ngộ ra rằng: người làm ra bài quyền, hoặc bài thiệu, chủ ý của Lão Mai là chỉ loài hầu, khỉ. Chúng ta hãy thử xem động tác đầu của câu “Lão Mai độc thọ nhất chi vinh”, hình ảnh con mai (khỉ) đứng thẳng giống như một thân cây mai, một cánh tay đưa ra giống như một cành (nhánh) mai, mà tay con mai (khỉ) vịn vào cành mai, theo lời Sư Trưởng, còn cánh tay kia buông thõng xuống.

Vậy tóm lại, tư thế đứng của con mai (khỉ) già được ví (so sánh) giống với cội mai già. Chữ mai ở đây trùng âm mà khác nghĩa nên mới có sự nhầm lẫn; để được rõ nghĩa hơn chúng ta hãy đọc tiếp câu thiệu thứ hai, “Lưỡng túc khinh khinh tấn bộ hoành”, chỉ có con mai (khỉ) mới có hai chân nhẹ nhàng đổi bộ — và cả bài quyền hầu như chỉ nói đến động vật.

— VS Trương Thế Lưu

Lao-Mai

La Hán Quyền

Các bài quyền võ ngoại như La hán, Mai hoa, Thiếu lâm quyền pháp có nguồn gốc từ Nam Thiếu lâm, xuất phát từ chùa Thiếu Lâm Tung sơn thuộc tỉnh Hà nam bên Trung Quốc. Những bài quyền này Sư trưởng học được từ những vị võ sư chùa Thiếu lâm lưu lạc sang Việt Nam.

Nói chung về thủ pháp được sử dụng như những hệ phái khác như: quyền (nắm đấm), chưởng (bàn tay mở), trửu (cùi chỏ), chỉ (ngón tay), câu thủ (cổ tay), trảo (các ngón tay cong lại như móng cọp), hầu thủ (hai lóng tay ngoài co sát vào lòng bàn tay như bàn tay cùi) dùng để gõ, kí.

Về cước pháp (đòn chân đá) thì thường không đá cao, chỉ từ bụng trở xuống, nhưng phát lực. Về bộ pháp (tấn, cách phát đòn và cách di chuyển) tấn thấp vững chắc, đòn phát linh hoạt mà có lực, di chuyển nhanh ổn.

Võ Thiếu lâm được sử dụng, trui rèn trong thời gian dài chiến tranh nên kỹ thuật chiến đấu rất tinh luyện, công thủ kín đáo rõ ràng mà linh động, khí thế uy mãnh, vì vậy mà cho đến ngày nay trải qua cả ngàn năm mà Tung sơn Thiếu lâm tự vẫn còn đồng vọng trong lòng người ái mộ.

Bài La hán quyền, có người còn gọi là Thập bát la hán quyền hay La hán Phật gia quyền (bài quyền của nhà Phật), lấy hình tướng của mười tám vị A la hán trong truyền thuyết Phật giáo đã ngộ đạo, thể theo lời bảo của Phật tổ Thích ca mâu ni không về Tây thiên (nước Phật) mà ở lại thế gian hoằng dương đạo pháp cứu độ chúng sinh. Trong những vị A la hán này từng là võ sư trước khi đắc đạo, trong số đó có tổ Bồ đề Đạt ma.

Bài quyền La Hán có hai cách Bái tổ: cách thứ nhất là khi ta có chuẩn bị (tư thế trung bình tấn); cách thứ hai là lúc không chuẩn bị (đứng thẳng người). Cả hai trường hợp được áp dụng khi địch thủ tấn công từ bên hông.

Sự ra đời của Thập bát la hán quyền

Sau khi tổ Đạt ma đến Tung sơn Thiếu lâm tự tu thiền, chúng đệ tử xin theo rất đông nhưng vì nơi sơn lam chướng khí nên thân thể yếu đuối bệnh hoạn không đủ sức hành thiền nên Tổ đem phép luyện công nhằm tăng cường thể lực trong đó có mười tám phép tập tay để tăng cường khí lực hầu chịu đựng với thời khí khắc nghiệt. Mãi về sau này vào thời nhà Minh, thời kỳ đỉnh cao võ thuật, có nhiều kỳ nhân trong Thiếu lâm tự dựa vào các động tác luyện công của Tổ để lại mà làm ra rất nhiều bài quyền phức tạp hơn như: Thập bát la hán quyền, Mai hoa quyền, Bát bộ liên hoa quyền (Túy bát tiên), Thiếu lâm quyền pháp…

Tôi được Sư trưởng Trương thanh Đăng truyền dạy hai bài Thập bát la hán quyền (1&2) nhưng không biết có phải đây là bài quyền thường được đề cập đến hay là còn những bài khác nữa.

Bài Thập bát la hán quyền tôi được nghe thầy SA LONG CƯƠNG và nhiều lão võ sư nói là có một trăm lẻ tám (108) thế nhưng chưa từng thấy có ai phân những thế đó.

— VS Trương Thế Lưu

La Hán Quyền

Ngọc Trản

Lời thiệu của bài Ngọc Trản không có phần nào nói lên giai đoạn lịch sử nước Việt Nam nên khó đoán được bài quyền phát xuất từ lúc nào. Tuy nhiên, bài quyền thật hay, đòn thế ẩn tàng sâu sắc, đòi hỏi sự nhanh nhẹn, nhẹ nhàng, uyển chuyển, tránh né, lòn lách thật phù hợp với người có thể chất khiêm nhường như người Việt Nam ta, nhờ những sự tương hợp đó mà luôn hiên ngang chiến thắng trước nhiều nghịch cảnh thử thách.

Những bài quyền như Ngọc Trản, Lão Mai, Phượng Hoàng, Tứ Hải chỉ là tượng trưng và còn nhiều nữa là những bài quyền nổi tiếng của võ cổ truyền Việt nam, phần nhiều có những động tác trái ngược khó diễn nên người tập thuộc môn phái khác khó thực hành được nên họ chỉ tập những phần đơn giản mà thôi.

Những động tác cần lưu ý trong bài Ngọc Trản

Ngọc trản ngân đài, tả hữu: động tác phóng lên đá hai bên tả, hữu (trái, phải), nắm tay không nên đấm cùng lúc với chân đá vì khi chân đá trúng đối thủ thì tay đấm sẽ không chạm địch (vì chân dài hơn tay). Nhưng nếu địch thủ cũng hay lắm, lách người qua một bên tránh được cái đá và phản đòn ta sẽ không còn tay để đỡ gạt. Vậy tay đấm ra sau chân đá ngừa lúc địch tránh đòn, ta vẫn còn tay để công địch lúc địch chưa trụ vững.

Tả, hữu hoành sát thanh long biên giangHuỳnh long quyển địa là hai động tác mài có hơi khác nhau. Động tác mài hai bên tả hữu của Hoành sát thanh long biên giang khi mài xuống, một tay che đầu còn tay kia thì một là vỗ mạnh vào cổ chân để bàn chân văng lên khỏi mặt đất làm địch té đập mặt xuống đất, hai là co các ngón tay lại giống như bàn “tay cùi” kí (gõ) vào mắt cá hoặc điểm vào các huyệt chung quanh.

Huỳnh Long quyển địa: động tác nầy mài giống như Mài thiền sư nhưng khi trồi người lên sát bên địch thủ, hai cánh tay ngoài dựng đứng song song che trước mặt giống tư thế tay của con bọ ngựa (ngựa trời) ngừa trường hợp địch thủ quạt ngược cánh tay vào mặt ta… sau đó ta tùy nghi sử dụng…

Sau thế Tý ngọ hồi hậu đả thập tự, cái đá thứ nhất, chân phải đá thẳng ra sau của thế Hồi tẩu mã dương tiên; sau đó, chân phải bước (hoặc nhẩy) hơi lệch về phía sau bên phải một góc khoảng 30 độ, chân trái đá ngược lại chỗ mình vừa mới đứng; và cái đá thứ ba, chân trái cũng bước xéo 30 độ về phía sau bên trái, chân phải đá ngược về chỗ mình vừa rời đi.

Chú ý: động tác bước xéo và đá về chỗ cũ là vì địch tấn công ta nên ta bước xéo để tránh và đá ngược lại ngay địch.

— VS Trương Thế Lưu

Ngoc-Tran

Thái Sơn Côn

Côn có ba hạng (chiều dài của côn đo theo người sử dụng):

  1. Đản côn – côn ngắn đo từ đất cao đến vai
  2. Trung bình – không dài, không ngắn, từ đất cao đến cuối chân mày và có tên là Tề mi côn
  3. Trường côn – côn dài hơn tề mi côn hai gang tay hoặc cao khỏi đầu 2 gang tay

Côn, hay còn gọi là gậy, thân tròn hai đầu bằng nhau, miễn sao tay nắm vừa, tiện nghi là được, chiều dài như đã định ở trên, trọng lượng của côn tùy theo người dùng, nếu có sức lực thì dùng côn nặng hơn, miễn sao khi sử dụng được linh hoạt.

Cách cầm côn cho Thái sơn côn (loại tề mi côn)

Côn được nắm làm ba đoạn nên được gọi là côn tam phân hay côn phân ba.

Đoạn 1 từ chuôi côn (đốc côn) đến chỗ bàn tay trái nắm là khoảng 1.5–2 gang tay (phần này cũng để che chắn đỡ gạt).

Đoạn 2 từ nắm tay trái tới nắm tay phải phần này hơi rộng hơn bề ngang thân mình (nếu để hai tay thõng xuống tự nhiên khi cầm côn).

Đoạn 3 phần còn lại từ nắm tay phải đến cuối đầu côn cũng là phần dài nhất và ngắn hơn phần giữa và phần đốc côn cộng lại.

Cách thâu-phóng côn

Bàn tay trái hoặc tay phải nắm chặt phần đốc côn, bàn tay kia nắm lỏng thân côn để khi đưa côn lên, hạ xuống, hoặc quạt qua trái, qua phải, côn linh động chạy tới, chạy lui trong lòng bàn tay, hai cánh tay không được đem ra xa khỏi hông, hoặc cùi chỏ đưa lên cao để trống hông. Vì thế Sư Trưởng nói: “Phép đánh côn hai cánh tay phải kẹp sát hai bên hông để che chở cho hông.” Tuy nói kẹp sát nhưng không có nghĩa là kẹp chặt cứng, miễn sao cho động tác uyển chuyển linh động mà hông không quá hở (trống) địch sẽ đâm vào hông.

Cách đổi đầu côn

Bàn tay trái nắm chặt đốc côn kéo về bên trái, trong lúc bàn tay phải suốt ra (không để trống hông) cách đầu côn phải không quá 2 gang tay (đốc côn được đổi từ tay trái qua tay phải). Bây giờ bàn tay phải nắm chặt đốc côn, bàn tay trái nới lỏng thân côn, đầu côn trái được phóng ra khi tay phải đẩy côn mạnh qua trái cùng lúc hai cánh tay khép về hai bên hông. Đổi đầu côn qua trái, làm ngược lại.

Lưu ý: Muốn nắm đốc côn không quá 2 gang tay, lấy băng keo quấn vào đốc côn để làm mức đo, tập lâu ngày sẽ quen.

Vài điều không nên sử dụng trong phép đánh côn:

  1. Tuyệt đối không nên đỡ côn “bằng ngang” vì khi địch thủ đập xuống quá mạnh, côn của ta có thể bị gãy, côn của địch và côn của chính mình làm mình bị thương.
  2. Không nên cầm côn với các ngón tay bao quanh thân côn để đỡ vì khi địch thủ đập, ta đỡ, địch sẽ quét côn trên thân côn của ta để làm tổn thương các ngón tay.
  3. Không nên cầm côn theo cách để côn nằm trên hai hổ khẩu, tức côn nằm giữa ngón tay cái và ngón trỏ, vì theo cách này mặc dù địch không làm phương hại đến các ngón tay (vì các ngón tay nằm xuôi theo côn ở mặt dưới thân côn) nhưng nếu địch đập quá mạnh, chính côn của mình làm tổn thương đến hai huyệt Hợp Cốc, bàn tay sẽ không còn sử dụng được.

Cách cầm côn để đỡ

Địch thủ đập từ trên xuống:

  1. Hai bàn tay ốp lại như cái máng, thân côn nằm trong lòng máng, các ngón tay xuôi theo mặt dưới của thân côn, mặt trên trống, nâng côn lên khỏi đầu đỡ, nếu địch có quét côn, các ngón tay cũng vô hại.
  2. Đỡ khỏi đầu với thân côn nằm xiên 45 độ, với góc độ xiên của côn khi côn địch chạm vào, trọng lực sẽ bị hóa giải một phần lớn vì côn địch bị trượt đi.

Địch thủ đánh bật từ dưới lên:

Cũng dùng phương pháp “cái máng” kẹp côn vào đó, đằn côn xuống đỡ (côn cũng nằm xiên) theo thân mình, bây giờ các ngón tay nằm bên trên, mặt dưới trống, địch cũng không thể gây thương tích cho các ngón tay.

Lưu ý: Khi nghiêng người về đằn côn xuống đỡ, thân mình úp xuống (tức phần bụng–ngực hướng xuống mặt đất), cùi chỏ của phần cầm đốc côn phải nâng lên cao để che kín màng tang và cổ. Côn nằm song song và xiên với thân mình từ đầu đến chân, mắt nhìn về hướng đỡ (bàn chân).

Cách loan côn (che chở toàn thân)

Loan côn như bình thường, nhưng nếu muốn bước chân phải tới thì côn bắt buộc phải loan bên chân phải và đi trước chân phải để che đỡ cho chân, hoặc muốn bước chân trái tới trước thì côn phải loan bên trái và đi trước chân trái.

Cách loan côn đỡ mặt sau lưng (dùng trong lúc giao đấu)

Khi loan côn bên trái, cánh tay trái cập bên hông trái, bàn tay phải cầm côn đem qua hông trái và nằm ngoài cánh tay trái, như thế thì đầu côn sẽ đi thẳng về phía sau và sát vai trái, như thế cũng chưa đủ để đầu côn qua khỏi phần giữa lưng, vậy thì vai phải bắt buộc phải xoay qua trái (tức xoay vai hơn ¼ qua trái), đầu côn bây giờ sẽ qua khỏi chính giữa lưng để che đỡ mặt sau. Làm ngược lại áp dụng cho bên phải.

Sư Trưởng nói:

“Sử dụng binh khí hãy dùng binh khí che đỡ cho toàn thân.”

Những điều cần lưu ý trong bài Thái sơn côn

Khi Bái tổ, cánh tay trái thẳng xuống nắm lấy thân côn, co chỏ trái, nắm tay trái bây giờ nằm ngang và phía trước vai trái, bàn tay phải từ bên phải đem ngang qua trước ngực nắm lấy thân côn ngay trên nắm tay trái bây giờ bàn tay phải nắm chặt thân côn, bàn tay trái suốt xuống phần đốc côn, từ nắm tay trái tới cuối thân côn không quá 2 gang tay (1.5–2 gang tay). Tay phải đằn thân côn thẳng tay xuống nằm bằng ngang trước hạ đẳng. Co chỏ phải đem côn lên, nắm tay phải nằm ngang và phía trước vai phải. Thân côn nằm xéo từ dưới hông trái qua đến vai phải (giống như lính cầm súng diễn hành), không cầm côn hẳn về một phía trái hoặc phải.

Hồi đầu trực chỉ liên tam thích: Đánh đòn này, khi quay đầu về mặt tiền, đâm liên tục ba nhát không chần chừ.

Đồng tân thuận thế phá vân biên: Đòn này dùng để đánh cọp. Sau khi đâm liền ba nhát (liên tam thích), ta chĩa thẳng đầu côn vào mặt đối phương để giữ khoảng cách giữa mình và cọp. Hai bên đang gờm nhau, bất thần mình phóng lui về, cọp cũng không chậm trễ phóng liền theo, lập tức ta quạt đòn chí tử Đồng tân thuận thế; khi nó trúng đòn, ta liền đánh tiếp ngọn phá vân biên, ngọn kết liễu. Nói tóm lại ngọn Đồng tân thuận thế phá vân biên phải đánh nhanh và mạnh, không chần chừ chậm trễ.

— VS Trương Thế Lưu

Thai-Son-Con

Roi Trung Bình Tiên

Tuy nói là roi nhưng không có nghĩa là roi mềm như roi ngựa hoặc dài hơn. Theo võ cổ truyền Việt nam, roi là một đoạn cây dài hơn hơn đầu người sử dụng khoảng 1-2 gang tay, hơi mành hơn côn, phần đầu roi hơi thon hơn phần đốc dùng để đâm (roi có thể thay thế cho thương, loại binh khí có cán dài mũi nhọn hình thoi bằng kim loại).

Cách cầm roi cũng giống như côn. Từ bàn tay nắm tới đốc roi không quá 2 gang tay, phần giữa hơi rộng hơn bề ngang thân mình và phần còn lại dài nhất là thân roi, roi thường chuyển đổi tay cầm đốc mà không đổi đầu như côn (trừ trường hợp ngoại lệ).

Vài động tác cần lưu ý trong bài Trung Bình Tiên

Độc thụ sanh chi: lập tấn (đứng thẳng người, hai gót chân khít nhau, mũi bàn chân mở), cùi chỏ trái co khoảng 90 độ, bàn tay trái cầm roi sát hông trái và bên ngoài bàn chân trái, ngọn roi thẳng đứng, co chỏ nâng roi lên, nắm tay trái nằm trước và bằng vai trái, bàn tay phải đem ngang ngực qua trái nắm lấy roi ngay bên trên nắm tay trái, bàn tay trái suốt thẳng tay xuống đốc roi.

Đồng nhân phụng chỉ: bàn chân phải nhón gót, xoay bằng ức bàn chân cho mũi bàn chân và thân mình quay về hướng trái, đằng mạnh roi xuống hạ đẳng, mắt nhìn hướng đầu roi (động tác từ lúc nhón gót, xoay người, đằng roi thực hành trong một nhịp). Xong, bàn chân trái bước lùi về sát chân phải. Bàn chân phải có thể bước lùi ra sau nhưng không xa hơn chiều dài một bàn chân, bước lùi chân trái về kế bàn chân phải cùng lúc co hai chỏ đem roi lên ngang ngực dùng hai cổ tay cuốn roi địch một vòng nhỏ theo chiều kim đồng hồ hất roi địch ra (hai cánh tay vẫn kẹp sát hông), đâm tới địch.

Tiều ông quải tân: mặc dù nói là quải, có nghĩa là gánh trên vai, nhưng trong bài, cây roi không được đem xuống vai mà phải đỡ trên đầu.

Ôn hầu phóng kích: cây roi vẫn còn đỡ trên đầu, lăn người cùng cây roi và phóng ngược đầu roi vào địch.

Cổ thụ băn căn: động tác này dùng để đánh cọp. Khi đánh ngọn Thái công chiêu kỳ là đòn “hư” chọc địch, ngay sau đó ta liền phóng (theo lối lót chân) về phía sau, cọp tưởng ta sợ bỏ chạy nên lập tức phóng theo vồ lấy, chỉ đợi có thế, ta liền ngồi thụp xuống, chống roi chịu cứng xuống đất và hai tay ôm chắc cây roi với độ nghiêng khoảng 45 độ. Khi cọp phóng lên vồ tức khi rơi xuống thì bị roi đâm xuyên yết hầu.

Phi mã phóng tiên: động tác này khi đâm không dùng lực của hai cánh tay mà là do lực mình phóng tới, hai tay chỉ kẹp sát hai bên hông và nắm chặt cây roi nhắm về phía địch thủ. Giống như người cưỡi ngựa đấu roi, người trên lưng ngựa chỉ cần cầm roi kẹp thật chặt vào hông và hướng đầu roi về đối thủ, lực đâm tới mạnh hay yếu là do sức ngựa phi nhanh hay chậm.

Roi-Trung-Binh-Tien

Links: