Võ Thuật Cổ Truyền Việt Nam

Võ Thuật Cổ Truyền Việt NamThường gọi là võ kinh, song tỉnh Bình Định là danh tiếng nhất, tiền bối chúng ta đã làm oanh liệt biết bao, bình Nguyên đánh Tống chiến công vùng vẫy giang hồ, khiến cho cái kiếp nam nhi lắm phen thỏa chí.

Danh từ võ Bình Định là nơi sản xuất võ thuật, gốc ở Ngũ trường Sơn, vậy khi xưa vua ta có lập trường để thi võ chọn lựa anh tài để giúp nước phò vua.

Người dự thi phải biết đủ thập bát ban võ nghệ và lực năng cử đảnh. Qua năm 1901, người Pháp cấm không cho dạy võ Việt Nam vì vậy các bậc danh sư đều chán nản bỏ không dạy nữa. Ngày nay dầu còn đi nữa, hạng sau nầy học được là bao. Duyên cớ đó mà Võ Việt Nam bị thất truyền, không còn căn bản, thành thử mất cả bí truyền và tinh vi tuyệt diệu. Võ Việt Nam phải có Ngũ Hành và 8 bộ chân quyền, kêu là Bát quái trận đồ.

Vậy các bài tôi dạy lại đây, đối với kho học quyền thuật cổ truyền của tiền bối tuy rằng ít oi khác nào như cái bọt nước ti ti ngoài biển cả nhưng tập trung cũng đủ hết cái thuật tránh gạt biến hóa tiến lui hư hư thực thực rồi. Dám hỏi quyền gia tự cổ chí kim, tự đông chí tây có lối quyền nào không phải dùng các phép ấy không? Ôi?? Muôn việc đối với kẻ an cư vô chí đều như gió lạnh lửa tàn, như chiếc thuyền bơ vơ không bến, nếu biết đem ra mà lợi dụng và có công chuyện luyện siêng cần biết nhận một mà phát minh ra mười, đem gan não mà đeo đuổi mục đích thiêng liêng. Nếu đã có cái cư tâm của kẻ anh hùng, tất luyện dược cái bản sắc phi thường của người lo chi sầu thành muôn dậm mà chẳng phá tan. Muốn chí mình đạt được mục đích, thì bước đường thứ nhất là bước gian nan quyết phải cẩn thận mà không nên xao lãng, đã gọi công phu thì sự luyện lập không phải nhỏ.

PHÉP ĐÁNH CÔN

Không nói ai cũng hiểu rằng côn là một món binh khí rất lợi hại và tiện dụng hằng ngày, vì côn không có lưỡi sắc mũi nhọn mà có thể chống đỡ với đủ các món binh khí khác.

Vẫn biết đã đùng đến phép đánh côn, cần phải khỏe mạnh lắm mới được, nhưng các đòn đã gọi là hay, là hiểm và thứ nhứt là các đòn bí truyền thì không phải dùng sức lắm, phải cho lanh lẹ tinh tường, lấy mắt mà lượng đòn của địch nhân, lanh quá cũng không được mà chậm thì cũng hỏng. Lấy trí tuệ sai khiến chân tay, đầu và mình. Nói tóm lại phải cần có công phu và từng trải thì mới gọi là thực hành được.

Phép đánh côn điều thứ nhứt trong lúc tiến lui đánh đỡ, cần phải che phủ lấy chân tay.

Điều thứ nhì khiến cây côn tuốt ra thâu vào bất thường tùy theo từng lúc sử dụng, thí dụ thế côn thứ nhứt ta đâm đầu côn tay phải ra cản lấy đầu côn tay phải của địch nhân từ chỗ tay phải cầm ra đến đầu côn là non một phần nửa côn (từ chỗ tay phải cầm trở lại đầu côn tay trái là già nửa phần côn). Từ chỗ tay trái cầm ra đến đầu côn trái độ hai gang tay, lúc thâu đầu côn phải về, và đánh đầu côn tay trái ra, thì tay trái lại thâu vào khiến từ tay trái ra đến đầu côn trái là non một phần nửa côn; tay phải tuốt ra từ tay ra đến đầu côn phải, độ hai gang tay.

Điều thứ ba côn đánh ra mình và đầu phải lựa theo chiều côn của bên định, mà lách đi hay cúi xuống.

Điều thứ tư người khỏe dùng côn thì thật hay, nhưng chớ nên cậy lực, đánh hụt thì mất hết cả, nghĩa là phải đánh có chừng, miếng nào chắc ăn lắm mới đánh tận lực.

Điều thứ năm lối côn phóng thâu tiến lui được nhanh thì tất lợi hại trong lúc phóng thâu, cần phải gạt đỡ tùy cheo chiều côn của địch nhân đánh với ta.

Tôi sẽ nói cách đánh hư hư thực thực để gạt địch, và thắng địch, nếu địch vô ý thì bị ta thắng.

Côn có 3 hạng:

  1. Đản côn (từ đất lên tới nách)
  2. Tề mi côn (từ đất ngang lông mày)
  3. Trường côn (từ đất lên khỏi đầu chừng hai gang tay)

Thường dùng Tề mi côn là đẹp (dễ dùng hơn).

ROI, CÂY DÀI MŨI NHỌN

Roi là một món Binh khí trường là thường (dài) ta thường dùng, cũng giống như của người Tàu, cán dài mũi nhọn, vậy trung bình tiên là tên chữ, mà roi là tên nôm. Khi xưa các cụ luyện tập, nay ta theo cổ nhân cũng dùng ngọn Roi cách đâm gạt tiến lui, có hơi khác khi xưa đôi chút nhưng tựu trung vẫn phải theo khuôn phép của các Bậc tiền bối.

Một ngọn Roi xưa kia, các cụ vùng vẫy giang hồ đánh Đông dẹp Bắc khiến cho cái cái kiếp nam nhi lắm phen thỏa chí biết bao. Ta tập Roi, lại sực nhớ đến mấy câu thơ cụ Trần Quang Khải danh tiếng đời nhà Trần. Thơ rằng:

Đoạt giáo Chương Dương độ
Cầm hồ Hàm Tử quan
Thái bình nghi nỗ lực
Vạn cổ thử giang san.

Dịch thơ:

Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức
Non nước ấy nghìn thu.

Miệng đọc tai nghe khiến ta phấn khởi tinh thần. Vậy thì các cụ dùng ngọn Roi mà biết bao nhiêu chiến công oanh liệt, còn truyền tụng tới nay, mà nay ta thì dùng ngọn Roi làm một món thể thao cốt để tiêu cơm nới nặng bắp thịt, khoan khoái tinh thần, tuy đôi đường công dụng khác nhau, nhưng tựu trung tinh thần thượng võ.

Roi có hai thứ: Roi đản 1 mét 80, Roi trường 2 mét 40.

Mấy lời thô kịch nầy, có thiếu sót, Tôi kỳ vọng ở sự lưu tâm chỉ giáo, của bậc cao minh sư hữu. Rất đa tạ.

— Sư Trưởng Võ Đường Sa-Long-Cương

(Bài viết của Sư Trưởng TRƯƠNG THANH ĐĂNG – Bình Định Sa Long Cương đăng trên báo VÕ THUẬT thứ nhất 1968-1975.)

Advertisements

Vietnam and the Origin of Its Martial Arts

I. Introductionban-do-viet-nam-tu-co-den-kim-0028

Vietnam is a country on the eastern coast of the Southeast Asian Peninsula. Its coastline forms the letter “S”. Adjacent to East and South Vietnam is the South China Sea. West of Vietnam are Laos and Cambodia. To the north lies China. Vietnam’s geography can be divided into three regions: North, Central, and South regions. The North region is from the Chinese border to the 17th parallel. The Central region is from the 17th parallel to Qui Nhơn, and the South region is from Qui Nhơn to Cape Cà Mau.

VuaQuangTrung

King Quang Trung
(1753 – 1792)

The Ancient Vietnamese Martial Arts have existed for thousands of years. It is only in the last two centuries that the arts have received the most noted fame. Under the reign of King Quang Trung (1753 – 1792), many schools teaching this art were built and the art was very well spread among the Vietnamese. Many of the Generals of the King’s army were chosen from the schools. The soldiers were allowed to take martial arts test given by the King, and if they passed, they became military officers. Even though King Quang Trung was not the founder of the Vietnamese Martial Arts, he is recognized as the second founder because of his true martial arts spirit and his dedication to keeping the art strong.

In 1855, the French took govern over Vietnam and prohibited the teaching of the Vietnamese Martial Arts. They killed many instructors because this art was the main fighting weapon of the rebellion forces. As a result, some of the generals and instructors disguised themselves as Buddhist monks, and others secretly accepted students with the hope of keeping the art alive. Grand Master Trương Thanh Đăng was one of the students who learned this ancient art.

II. Brief History of Grand Master Trương Thanh Đăng

Sư trưởng Trương Thanh Đăng

Grand Master Trương Thanh Đăng (1895 – 1985)

Grand Master Trương Thanh Đăng was given the name “Sa Long Cương” in the world of martial arts. He was born in 1895 and began practicing the Ancient Vietnamese Martial Arts at the age of 14. He studied under many famous martial artist, such as Mr. Hai Cụt at the Cẩm-Thượng village, Mr. Đinh Cát at Qui-Nhơn, and Mr. Trương Trạch at Phú-Mỹ. All of his instructors passed the King’s hardest tests with the highest honors. Along with learning the arts, the Grant Master traveled to the areas, which are famous in the martial arts, An-Vinh and An-Thái, to get more training.

Besides 15 years of hard work in the Ancient Vietnamese Martial Arts, he spent 10 years practicing original Shaolin Martial Arts. In addition, he got combat experiences from his Great Grandfather, who was an instructor for the martial art generals. He lived in a time when Vietnamese Martial Arts were prosperous yet being neglected because of the import of much simpler foreign martial arts. Recognizing that the art was dying, he opened his doors to the public for the first time in order to teach his art and keep it alive.

III. Master Trương Thế Lưu

Master Trương Thế Lưu is one of the highest ranked students of the late Grand Master Trương Thanh Đăng. Following his Master’s idea that the ancient art should continue to survive in its most ancient and traditional form, Master Trương Thế Lưu has produced this instructional video. His hope is that this art will be widely known in America among the other foreign martial arts.

IV. The Uniform

1) White T-shirt
2) Soft black pants with pinched leg openings
3) Black practice shoes and socks
4) A soft thin material belt three meters long by thirty centimeters wide

V. Method for Tying the Belt

1) Fold the width of the belt into 13 its size
2) With the left hand, hold the belt in the middle
3) Bring the stomach in and wrap one of the halves of the belt around the waist starting from the front
4) Place the longer section in the right hand over the one on the left hand and tie one simple knot
5) Place the longer section in the left hand over the other and tie the second knot (the second knot forms a loop in the belt)
6) To untie the belt, one only needs to pull on the inner end of the belt

For the higher rank students, the inner end of the belt has to be adjusted so that both ends of the belt can be seen. Male students tie the knot on the left waist and female students ties it on the right. Only persons with a Master rank can tie the bell in the middle.

The belt is worn to keep the internal organs intact during the long practice session. It also shows the rank of the students in school. When the belt is in place, air is brought to the chest and helps the students move faster and easier. In the beginning, the belt may cause discomfort, but the student will get accustomed to the pressure.

** The shoes are worn during practice so that the student is accustomed to making martial arts moves at any moment, especially while he is wearing regular street clothes.

VI. The Importance of Warming-up

The warm-up is essential in any athletic and martial arts exercise. Properly done, you are preparing your body to function with increased precision and control. A good personal learning situation is better achieved when the joints and muscles are loosened up and blood circulation is increased. Therefore, the warmup technique should be studied and practiced carefully.

VII. The Stances

“Bát Bộ Chân Quyền” is the eight sets of stances in the Ancient Vietnamese Martial Arts. From these basic stances, the many hand and foot movements are derived. Upon those movements, the excellent techniques of fighting are built. The eight stances can be thought of as a “steady foundation”. By “steady”, we do not mean a stationary immovable object, but rather a “steady” balancing position of flexibility and agility. In other words, the stances should not be a stiff base, but rather a firm, stable, secure position from which a martial artist can combine inner and outer power and produce it precisely,

The original eight stances were systemized by the Great Master Trương Thanh Đăng and are demonstrated by Master Trương Thế Lưu. The “Middle”, “Horse”, “T”, “Leaning”, and “Tiger” stances are stationary stances and you should stand as long as you can.

VIII. Iron Hand (Thiết Thủ)

The fingers should be straight out and closed tightly together. The thumb should be bent at its first joint and lies under the index finger. The wrist and the back of the hand should be kept flat.

IX. Iron Fist (Thiết Quyền)

Every joint of the fingers should be bent tightly into a fist. The fist should be solid, not hallow. The thumb lies on the index and middle fingers. The back of the hand and the wrist should be flat.

X. Meaning of the Salutation (Bái Tổ)

The salutation moves are to be performed prior and after each practice session in order to pay respect and appreciation to the late founder of our Martial arts. These moves should be performed attentively at all times.

XI. Technique of Continuous Fighting (Liên Đấu Pháp)

This is the technique of flowing from one move easily to another, without stopping at a single strike.

XII. Free Fighting

The portion of the tape with free fighting is not only meant for entertainment purposes but mainly to show you how the stances can be used very effectively.

*** Some Rewards from Practicing Martial Arts:

1) Lower heart rate
2) Increased amount of blood flow
3) Increased confidence and harmony
4) Deep breathing increases oxygen in the blood
5) Helps the stomach digest food
6) Bones and ligaments become stronger
7) Improved muscle tone and endurance
8) Increases reaction time and reflexes
9) Helps avoid the stiffness and pain to muscles and joints due to aging

Liên Quyền Đấu Pháp

Liên Quyền Đấu Pháp là phép đấu liên tục, không đấu từng đoạn rời rạc. Khúc phim ngắn sau đây là đoạn song đấu nhằm giúp cho quý vị vài phút giải trí sau gần một giờ tập luyện và cũng để võ sinh có khái niệm về cách sử dụng kỹ thuật trong Bát Bộ Chân Quyền.

Võ sư Trương Thế Lưu

Võ sư Trương Thế Lưu là một trong những cao đồ của Sư Trưởng Trương Thanh Đăng. Nhập học võ đường Sa Long Cương từ cuối thập niên 60, ông đã nhanh chóng thăng lên các cấp bậc. Là một học trò tâm đắc của Sư Trưởng, ông đã lĩnh hội được nhiều sở học từ người tôn sư của mình.

Sang Hoa Kỳ năm 1975, sau một thời gian ổn định cuộc sống nơi xứ người, ông đã thành lập các lớp võ thuật Sa Long Cương tại các trung tâm YMCA ở thành phố Los Angeles, California, thu hút được nhiều thanh thiếu niên địa phương đến học.

Hiện trong tuổi hưu, ông chuyên tâm nghiên cứu và thực hiện các video và bài viết trong tâm nguyện gìn giữ và truyền bá võ thuật cổ truyền Bình Định — Sa Long Cương.

Tóm tắt tiểu sử võ nghiệp

VS Trương Thế Lưu sanh năm 1944 tại Trường Bình, một quận nhỏ cách Chợ Lớn khoảng 15-16 cây số, gần bến xe Cần Giuộc trên đường đi Gò Công. Học võ Thiếu Lâm lúc 13 tuổi (ở Việt Nam, ngoài võ Nhật, Đại Hàn và võ cổ truyền, kỳ dư là võ Thiếu Lâm).

1962 – học võ Thái cực đạo
1963 – học Nhu đạo với thượng tọa Thích tâm Giác
1969 – học võ với sư trưởng Trương thanh Đăng
1972 – học khí công phật gia, điểm huyệt trị bệnh và cắt lể trị những bệnh thông thường với thầy Bảy Nếp (một nhà ái quốc ẩn danh)
1975 – định cư tại California, Hoa kỳ
1977 – dạy võ ở Hollywood YMCA
1982 – dạy võ ở Alhambra YMCA
1986 – dạy võ ở West Covina YMCA
1987 – thực hiện cuốn băng video Bát Bộ Chân Quyền tự học
1992 – dạy chung võ đường Thái cực đạo với võ sư Kim ở Sunset, Hollywood
1997 – học bấm huyệt ở Tao Healing Art Center, thành phố Santa Monica, với bác sĩ châm cứu Doan Kaneko
2002 – mở lớp võ ở Tao Healing Art Center và làm việc tại đây
2007 – nghỉ hưu

Duyên được gặp sư phụ Bảy Nếp

Một hôm đang tập ở võ đường Sa Long Cương, bỗng dưng cổ tay trái đau nhói không cầm được binh khí, có ông kỹ sư môn sinh N, khoảng 50 tuổi, cấp bậc hồng đai, thấy vậy mới đề nghị với tôi là ông có biết một người làm cùng sở trị bệnh hay lắm, biết điểm huyệt để tôi hỏi ông giúp cho. Mấy hôm sau đi tập, ông N cho tôi địa chỉ ở sở và sau đó vài hôm tôi tìm đến sở, ông N giới thiệu thầy Nếp với tôi (thầy khoảng 60). Thầy xem cổ tay tôi rồi bấm ngay chỗ đau, bẻ cổ tay qua lại, xoay cổ tay tới lui một lúc, tôi cảm thấy bớt đau. Sau khi trị xong, thầy nói: nếu còn tái lại thì đến nhà thầy và thầy cho tôi địa chỉ nhà.

Vài tuần sau đó tôi đến thăm thầy. Sau nhiều lần đến thăm, một hôm thầy nói: thầy biết con học võ với thầy Đăng nhưng thầy sẽ chỉ cho con thêm, tôi chỉ nói lời cảm ơn chứ không có ý gì về võ thuật. Một hôm tôi đến thăm thầy, thầy nói: để thầy thử coi nghề của con tới đâu rồi thầy sẽ chỉ thêm. Thầy bảo một người học trò lớn L thử tôi, thầy dẫn chúng tôi vào một căn phòng chừng 3 thước vuông, thầy ngồi ở một góc phòng còn tôi và anh L đứng hai góc hai bên. Thầy bảo anh L tấn công trước (thầy không nói đấm hay đá), xong thầy bảo bắt đầu. Tôi vẫn đứng xuôi hai tay bình thường, anh L bất thần lao tới đấm thẳng tay phải vào mặt, tôi rút chân trái xéo về phía sau nửa bước, không chậm trễ chân phải L đá tạt vào hông trái, lúc đó tôi hạ người xuống “hổ lỡ” vỗ hai bàn tay vào chân đá (vỗ: động tác “tả, hữu bạch xà lang lộ” trong bài Ngọc Trản), chân L xoay sang một bên, lưng xoay lại hướng về tôi, xoạc ra đinh tấn đánh liền hai chưởng cùng lúc vào thận và tim (chỉ chạm nhẹ tay), thầy nói thôi được rồi. Việc thử võ chấm dứt.

Sau đó thầy bảo võ nghệ của con khá lắm, thầy không dạy võ cho con, song thầy bảo: nhưng ở đời võ nghệ có cao đến đâu đi nữa mà người cố ý chém sau lưng thì không thể nào đỡ được, vậy thầy cho con sáu câu “thần chú”, bùa hộ thân và một sợi dây “cà tha” ngũ sắc đi đâu cũng phải buộc theo người, bùa và thần chú con phải siêng năng luyện tập, sẽ có công hiệu lúc lâm trận. Không được thách đố hoặc cho chém thử. Tôi luyện tập không chểnh mảng.

Ngoài ra thầy dạy thêm khí công Phật gia, điểm huyệt trị bệnh, nhân thần (điểm huyệt theo ngày giờ), cắt lễ trị những bệnh thông thường. Những thứ nầy một võ sĩ cần phải biết, thầy nói.

Thầy Bảy Nếp là một nhà cách mạng kháng Pháp. Ông bị Tây bắt, trên đường dẫn về khám trong lúc chở ông qua một con sông, ông bức trói và phóng xuống sông trốn thoát. Lần thứ hai sau đó vài năm ông bị Tây bao vây bắt được, lần nầy chúng xiềng ông bằng xích sắt và ông bị tra điện nên sau ba năm ra tù, ông bị bại xụi, gia đình phải giúp đưa ông về. Sau đó mười năm ròng rã luyện tập, ông trở lại đi đứng và viết lách bình thường, theo lời ông kể. Tuy nhiên tôi thấy cánh tay và chân của thầy có phần bị teo.

Thời gian bắt đầu dạy võ ở Hoa kỳ

Năm 1977 nhân dịp được mời dự ngày lên đai của môn sinh Võ Lâm ở trung tâm YMCA Hollywood, tôi gặp anh T. cũng làm ở trung tâm. (YMCA là loại câu lạc bộ thể thao & xã hội hiện diện tại nhiều địa phương, thành phố.)

Anh T hỏi tôi: anh có dạy võ không, tôi đáp không vì người ngoại quốc không hiểu được võ CTVN (cổ truyền Việt Nam), hơn nữa họ không bền tâm nên tôi không muốn dạy. Anh T lại nói: mình có dạy có nói ngày qua ngày thì họ sẽ hiểu, chứ mình không dạy, không nói thì ai mà biết. Còn chuyện bền tâm hay không thì ở xứ Mỹ không ai ở một chỗ vài chục năm nhất là ở khu Hollywood họ di chuyển rất thường vì công việc làm ăn và còn nhiều chuyện khác nữa. Tôi nghe anh nói có lý, rất thuyết phục nên tôi nhận dạy và anh T dành cho tôi một phòng khang trang ở mặt tiền, thế là tôi bắt đầu dạy từ đó.

Vì hoàn cảnh các võ sinh không thể tập lâu dài và cũng để khuyến khích sự hăng say tập luyện, tôi chỉ dạy phân nửa BBCQ xong tập bài quyền Long Hổ Hội ngắn gọn, cho các em lên đai, tiếp tục tập nửa phần BBCQ còn lại và bài Thần Đồng lại được lên đai, tôi đặt thêm cấp đai nâu, tóm lại phần sơ cấp tập hết một bài là được lên đai. Thật ra các em hoặc thanh niên hay ngay cả phụ huynh mỗi lần lên đai là mọi người phấn khởi, hãnh diện, làm mình cũng vui lây.

Trong lớp võ Hollywood có ông M người Mỹ là giám đốc trung tâm; sau một thời gian tập, ông đề nghị mở lớp võ ở YMCA Alhambra năm 1982. Đến năm 1986, Alhambra dời đi, tôi mở lớp mới ở West Covina YMCA.

Năm 1987, thực hiện cuốn băng video BÁT BỘ CHÂN QUYỀN tự học.

Năm 1992, dạy chung võ đường Tae Kwon Do với võ sư Kim ở Sunset Hollywood.

Năm 1997, học bấm huyệt ở Tao Healing Art center Santa Monica với bác sĩ châm cứu Doan Kaneko. Sau khi ra trường, làm việc tại đây.

Năm 2002, Dr. Doan Kaneko mời mở lớp võ ở trường “bấm huyệt” và ông là võ sinh đầu tiên của lớp.

Năm 2007, tôi nghỉ hưu cũng là lúc trung tâm bấm huyệt hết hợp đồng nên trường võ cũng đóng cửa.

Năm 2017, thiết lập website võ thuật CTVN Sa Long Cương.

Lúc còn hơi trẻ còn nhiều nhiệt huyết, lúc nào cũng nghĩ muốn thực hiện chương trình võ Cổ Truyền SLC. Chờ đợi mãi mà duyên chưa đến. Đến năm 2017, lúc này là 73 tuổi già rồi mà duyên nợ vẫn chưa thấy đâu, thầm nghĩ có lẽ ước nguyện không bao giờ thành. Một hôm Quân (người học trò cách nay 20 năm không liên lạc) gọi tôi nhiều lần, lần sau cùng Quân có để lại tin nhắn và tôi gọi lại. Sau vài câu chuyện Quân nhắc lại quá khứ, tôi mới nhớ ra Quân, và Quân đề nghị lập website Sa Long Cương võ thuật. Tôi nói: thầy già rồi không còn làm gì được, Quân gặp lại thầy trễ quá, phải chi 20 năm về trước. Quân nói: thầy không cần phải đánh mau, đánh mạnh chỉ cần kỹ thuật. Tôi nghĩ nếu chỉ có vậy thì cũng không khó lắm. Và chúng tôi bắt đầu thực hiện.

Thú thật sau khi xem lại video đầu tiên tôi không nghĩ là mình diễn tệ như vậy. Tôi không muốn Quân thất vọng bỏ công từ Louisiana qua Los Angeles quay mà không được việc nên tôi phải ráng phần kỹ thuật càng rõ càng tốt.

Sư trưởng TRƯƠNG THANH ĐĂNG nói: học với thầy bằng học với bảy ông thầy. Thật vậy, bắt đầu Sư trưởng luyện 15 năm võ cổ truyền và 10 năm võ Thiếu lâm, ngoài ra còn được ngoại tổ dạy kinh nghiệm chiến đấu (ngoại tổ là người dạy cho những người đi thi cử nhân võ thời đó). Sư trưởng còn học hỏi, trao đổi, giao tiếp với nhiều danh sư lúc bấy giờ vì thế mà cách dạy của Sư trưởng thật đa dạng, phóng khoáng và tâm lý chiến đấu sâu sắc, bài bản được chọn lọc chuẩn xác. Sư trưởng có thiên bẩm mang trong mình một kho báu võ thuật tuyệt vời có giá trị thời gian lẫn không gian.

Sự ra đi của Sư trưởng thật đáng tiếc, là một mất mát lớn lao không chỉ riêng cho môn phái SLC mà cho cả mọi người Việt nam yêu chuộng võ thuật cổ truyền chúng ta. Nghĩ vậy mà tôi cố gắng giữ được phần nào của thầy để lại hay phần nấy, nếu có gì sai sót mong các huynh đệ bổ khuyết thêm để Sa Long Cương không bị mai một mà mãi mãi cho ngày mai…

Võ bằng TTL